User Tools

Site Tools


215730-monogatari-series-la-gi

Monogatari Series
Bakemonogatari DVD 01 cover.jpg
Thể loại Lãng mạn, trinh thám, hài hước, drama
Light novel
Tác giả Nishio Ishin
Minh họa Vofan
Nhà xuất bản Kodansha
Tạp chí Mephisto
Đăng tải Ngày 01 tháng 11 năm 2006 – nay
Số tập 16
Anime truyền hình
Đạo diễn Shinbo Akiyuki
Hãng phim Shaft
Cấp phép
  • Hoa Kỳ Aniplex
  • Đài Loan Proware Multimedia International
  • Cấp phép và phân phối khác
     Hàn Quốc Mirage Entertainment
    Kênh gốc Independent UHF Stations
    Phát sóng Ngày 03 tháng 7 năm 2009 Ngày 25 tháng 9 năm 2009
    Số tập 12
    ONA
    Đạo diễn Shinbo Akiyuki
    Hãng phim Shaft
    Phát hành Ngày 3 tháng 11 năm 2009 Ngày 25 tháng 6 năm 2010
    Số tập 3
    Anime truyền hình
    Nisemonogatari
    Đạo diễn Shinbo Akiyuki
    Hãng phim Shaft
    Phát sóng Ngày 07 tháng 1 năm 2012 Ngày 17 tháng 3 năm 2012
    Số tập 11
    Trò chơi
    Bakemonogatari Portable
    Phát triển Namco Bandai Games
    Phát hành Namco Bandai Games
    Thể loại Visual novel
    Phân hạng
    Hệ máy PlayStation Portable
    Ngày phát hành
    Anime truyền hình
    Nekomonogatari (Kuro)
    Đạo diễn Shinbo Akiyuki
    Hãng phim Shaft
    Phát sóng Ngày 31 tháng 12 năm 2012
    Số tập 4
    Anime truyền hình
    Monogatari
    Đạo diễn Shinbo Akiyuki
    Hãng phim Shaft
    Anime truyền hình
    Monogatari Series Second Season
    Đạo diễn
  • Shinbo Akiyuki
  • Itamura Tomoyuki
  • Âm nhạc Kōsaki Satoru
    Hãng phim Shaft
    Kênh gốc Tokyo MX, Chiba TV, tvk, TVS, Tochigi TV, GTV, MBS, TV Aichi, TVh, TVQ Kyushu, BS11
    Phát sóng Ngày 06 tháng 7 năm 2013 Ngày 28 tháng 12 năm 2013
    Số tập 26
    Anime truyền hình
    Hanamonogatari
    Đạo diễn Shinbo Akiyuki
    Hãng phim Shaft
    Kênh gốc Tokyo MX
    Phát sóng Ngày 16 tháng 8 năm 2014
    Số tập 5
    Anime truyền hình
    Tsukimonogatari
    Đạo diễn Shinbo Akiyuki
    Hãng phim Shaft
    Kênh gốc Tokyo MX
    Phát sóng Ngày 31 tháng 12 năm 2014
    Số tập 4
    Anime truyền hình
    Owarimonogatari
    Đạo diễn Shinbō Akiyuki
    Kịch bản
  • Simbo Akiyuki
  • Tō Fuyashi
  • Âm nhạc Haneoka Kei
    Hãng phim Shaft
    Kênh gốc Tokyo MX, GYT, GTV
    Phát sóng Ngày 04 tháng 10 năm 2015 Ngày 20 tháng 12 năm 2015
    Số tập 12
    Phim anime
    Kizumonogatari I Tekketsu-hen
    Đạo diễn
  • Shinbō Akiyuki
  • Oishi Tatsuya
  • Âm nhạc Kōsaki Satoru
    Hãng phim Shaft
    Công chiếu Ngày 08 tháng 1 năm 2016
    Chủ đề Anime và manga

    Monogatari Series (〈物語〉シリーズ, モノガタリシリーズ) là loạt light novel nổi tiếng tại Nhật Bản được viết bởi Nishio Ishin và minh họa bởi Vofan. Kodansha đã xuất bản loạt tiểu thuyết này thông qua nhà xuất bản Kodansha Box. Cốt truyện xoay quanh Araragi Koyomi, một nam sinh trung học năm thứ ba người sống sót sau khi bị vampire tấn công và biến thành vampire nhưng sau đó trở lại thành người vì quá trình chuyển đổi chưa thật sự hoàn tất và bị đảo ngược, tuy không biến thành vampire nhưng anh lấy được sức mạnh là có thể hồi phục vết thương gần như ngay lập tức sau khi chiến đấu cũng như bắt đầu thấy các thần linh, ma, các sinh vật thần thoại và yêu tinh vẫn luôn sống xung quanh mình trong cuộc sống bình thường. Koyomi cũng bắt đầu giúp những người khác thoát ra khỏi ảnh hưởng của những thế lực siêu nhiên với những hiểu biết mới của mình. Sau đó anh cũng nhận ra là quá trình trở thành một vampire thật sự đang xảy ra trong cơ thể mình mỗi khi sử dụng sức mạnh của vampire để giải quyết vấn đề vẫn đang diễn ra rất vững chắc và quá trình này không thể bị đảo ngược như lần trước.

    Loạt tiểu thuyết cũng đã được chuyển thể thành các phương tiện truyền thông khác như drama CD, anime, trò chơi điện tử... và trở thành một thương hiệu. Shaft đã thực hiện các chuyển thể anime với 4 bộ đã phát sóng tại Nhật Bản và đang thực hiện bộ thứ 5 cùng một phim anime. Các món đồ chơi và trò chơi điện tử cũng đã được sản xuất và phát hành dựa trên thương hiệu của tiểu thuyết.

    Sơ lược cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

    Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

    Senjougahara: là một cô gái khá lạnh lùng. Khi Araragi phát hiện ra Senjougahara chỉ nặng 5kg do gặp rắc rối đối với một linh hồn ma quỷ, cô đe dọa anh với một phát bấm kẹp ghim nhanh như chớp (đương nhiên bằng một cái kẹp) để khiến anh im lặng.

    Tsubasa Hanekawa: là bạn cùng lớp Koyomi Araragi và là một đại diện tiêu biểu của lớp. Cô được biết đến như tấm gương học sinh được ngưỡng mộ. Tuy nhiên, ẩn sau bởi những thành tựu của mình trong trường học là một cuộc sống gia đình căng thẳng, nguyên nhân từ hoàn cảnh không may mắn.

    Tsubasa cũng luôn nâng cao "sự giàu có" trong kiến thức học tập và biết giữ khiêm tốn, luôn luôn nói rằng "Tôi không biết tất cả mọi thứ, tôi chỉ biết những gì tôi biết " với những người khen cô.

    Nadeko Sengoku: là một cô bé dễ thương luôn làm đẹp lòng người xem nhờ tính cách ngoan hiền, thánh thiện. Tuy vậy mặt trái của cô chỉ bộc lộ trong season 2: ích kỉ, dối trá, ngang bướng, lời lẽ cay độc được thể hiện dưới hình hài của Medusa. Đó là kết quả của việc dồn nén những cảm xúc tiêu cực bấy lâu, để rồi mang theo tình yêu cùng sự ganh ghét, tuyệt vọng và hận thù đối với Araragi.

    Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

    Nishio Ishin ban đầu chỉ thực hiện loạt light novel này như các mẫu truyện ngắn đăng trên tạp chí Mephisto, mỗi mẫu truyện trong bộ Bakemonogatari (化物語) đều giới thiệu một nhân vật mới giống như tác phẩm Zaregoto trước đó. Kodansha Box sau đó đã tập hợp lại các mẫu truyện lại để phát hành thành hai cuốn sách phát hành vào ngày 06 tháng 11 và ngày 01 tháng 12 năm 2006 và tên của loạt tiểu thuyết đã được hình thành qua đó. Loạt tiểu thuyết này được chia ra làm ba bộ chính là thứ nhất, thứ hai và cuối cùng, mỗi bộ lại tập hợp các bộ nhỏ hơn gồm một hay nhiều tập nói về từng câu truyện khác nhau.

    Tập đầu tiên có các mẫu truyện là Hitagi Crab (ひたぎクラブ), Mayoi Snail (まよいマイマイ) và Suruga Monkey (するがモンキー). Tập thứ hai bao gồm các mẫu truyện Nadeko Snake (なでこスネイク) và Tsubasa Cat (つばさキャット).

    Bộ tiểu thuyết lấy bối cảnh trước khi diễn ra Bakemonogatari có tựa Koyomi Vamp (こよみヴァンプ) ban đầu phát hành trên tạp chí Pandora và sau đó in thành các tập với tên Kizumonogatari (傷物語) vào ngày 07 tháng 5 năm 2008. Bộ tiểu thuyết tiếp theo có tựa Nekomonogatari (猫物語) cũng lấy bối cảnh trước khi diễn ra loạt tiểu thuyết cũng đã phát hành với tập đầu tiên có mẫu truyện Tsubasa Family (つばさファミリー) và tập thứ hai có mẫu truyện Tsubasa Tiger (つばさタイガー)

    Bộ tiểu thuyết thứ hai nối tiếp cốt truyện của loạt Bakemonogatari đã phát hành trong khoảng năm 2010 và 2011, bộ này tập trung nói về mối quan hệ của các nhân vật chính. Hai tập đầu có tựa Nisemonogatari (偽物語), tập đầu tiên có mẫu truyện Karen Bee (かれんビー) phát hành vào ngày 02 tháng 9 năm 2008 và tập thứ hai có mẫu truyện Tsukihi Phoenix (つきひフェニックス) phát hành vào ngày 10 tháng 6 năm 2009. Tập Kabukimonogatari (倾物语) có truyện Mayoi Jiang Shi (まよいキョンシー) phát hành vào ngày 24 tháng 12 năm 2010. Tập Hanamonogatari (華物語) có truyện Suruga Devil (するがデビル) phát hành vào ngày 31 tháng 3 năm 2011. Tập Otorimonogatari (囮物語) có truyện Nadeko Medusa (なでこメドゥーサ) phát hành vào ngày 30 tháng 6 năm 2011. Tập Onimonogatari (鬼物語) có truyện Shinobu Time (しのぶタイム) phát hành ngày 28 tháng 9 năm 2011. Tập Koimonogatari (恋物語) có truyện "Hitagi End" (ひたぎエンド) phát hành vào ngày 20 tháng 12 năm 2011.

    Bộ thứ ba và cũng là bộ cuối cùng của loạt tiểu thuyết, bộ này đi sâu vào thân phận vào nhân vật Ōgi Oshino. Bộ này gồm 6 tập là Tsukimonogatari (憑物語) có truyện Yotsugi Doll (よつぎドール) phát hành vào ngày 26 tháng 9 năm 2012, Koyomimonogatari (暦物語) với 12 mẫu truyện ngắn phát hành vào ngày 20 tháng 5 năm 2013. Owarimonogatari (終物語) chia làm ba tập, tập đầu có truyện Ōgi Formula (おうぎフォーミュラ), Sodachi Riddle (そだちリドル) và Sodachi Lost (そだちロスト) phát hành vào ngày 21 tháng 10 năm 2013, tập hai có truyện Shinobu Mail (しのぶメイル) phát hành vào ngày 29 tháng 1 năm 2014. Hai tập còn lại của loạt tiểu thuyết đang được tiếp tục thực hiện.

    Drama CD[sửa | sửa mã nguồn]

    Drama CD có tựa Original Drama CD: Hyakumonogatari (オリジナルドラマCD -佰物語-) đã phát hành vào ngày 03 tháng 8 năm 2009. Kịch bản được viết bởi Nishio Ishin và được đính kèm chung với đĩa CD, tên của drama CD này được đặc theo tên của trò chơi dân gian Hyakumonogatari Kaidankai tại Nhật Bản.

    Ngoài ra trong hầu hết các đĩa nhạc của các bộ anime đều có một đoạn drama với tên chung là Atogatari (あとがたり).

    Anime[sửa | sửa mã nguồn]

    Shaft đã thực hiện chuyển thể anime của loạt tiểu thuyết này và đã phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 03 tháng 7 đến ngày 25 tháng 9 năm 2009 trên kênh Tokyo MX với 12 tập. Với sự đạo diễn của Shinbo Akiyuki cùng sự trợ giúp của Oishi Tatsuya, kịch bản viết bởi Tō Fuyashi và Watanabe Akio đảm nhận việc thiết kế nhân vật dựa trên các nhân vật do Vofan minh họa trong loạt light novel. Âm nhạc của bộ anime do Kōsaki Satoru soạn dưới sự giám sát của Tsuruoka Yota. Bộ anime này là một phần của dự án NisiOisiN Anime Project của Shaft. Bộ anime ban đầu được dự tính là 15 tập tuy nhiên sau đó chỉ phát sóng 12 tập. Ba tập còn lại chuyển thành ONA và phát trên mạng dần dần từ ngày 3 tháng 11 năm 2009 đến ngày 25 tháng 6 năm 2010. Aniplex đã phát hành 15 tập anime này dưới dạng DVD và BD. Aniplex đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của bộ anime để phát trực tuyến trên hệ thống của mình cũng như phát hành tại thị trường Bắc Mỹ, Proware Multimedia International đăng ký phát hành tại Đài Loan và Mirage Entertainment đăng ký tại Hàn Quốc.

    Shaft đã thực hiện bộ anime thứ hai có tựa Nisemonogatari nối tiếp cốt truyện của bộ anime thứ nhất và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 07 tháng 1 đến ngày 17 tháng 3 năm 2012 với 11 tập. Phiên bản BD/DVD của bộ anime cũng đã được phát hành.

    Bộ anime thứ ba gồm 4 tập có tựa Nekomonogatari (Kuro) chuyển thể dựa theo cuốn cùng tên trong bộ tiểu thuyết lấy bối cảnh trước hai bộ anime đầu cũng đã được Shaft thức hiện và phát sóng hết trong một ngày 31 tháng 12 năm 2012.

    Bộ anime thứ tư có tựa Monogatari Series Second Season (<物語>シリーズ セカンドシーズン) với bối cảnh được lấy trong bộ tiểu thuyết thứ hai nối tiếp các bộ anime trước vốn chuyển thể hầu hết từ bộ tiểu thuyết thứ nhất đã được thực hiện và phát sóng từ ngày 06 tháng 7 đến ngày 28 tháng 12 năm 2013 trên các kênh Tokyo MX, Chiba TV, tvk, TVS, Tochigi TV, GTV, MBS, TV Aichi, TVh, TVQ Kyushu, BS11.

    Bộ anime thứ năm có tựa Hanamonogatari (花物語) đã thực hiện với 5 tập và phát sóng hết vào ngày 16 tháng 8 năm 2014 trên kênh Tokyo MX.

    Bộ anime thứ sáu có tựa Tsukimonogatari (憑物語) đã được thực hiện và phát sóng hết trong ngày 31 tháng 12 năm 2014 với 4 tập trên kênh Tokyo MX.

    Bộ anime thứ bảy có tựa Owarimonogatari (終物語) bắt đầu phát sóng từ ngày 04 tháng 10 dự tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2015 với 12 tập.

    Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

    Namco Bandai Games đã phát triển một chuyển thể trò chơi điện tử thể loại visual novel của tác phẩm cho hệ PlayStation Portable có tựa Bakemonogatari Portable và phát hành vào ngày 23 tháng 8 năm 2012.

    Phim anime[sửa | sửa mã nguồn]

    Shaft đã lên kế hoạch phát hành một phim anime dựa theo cuốn Kizumonogatari (傷物語) cùng tên lấy bối cảnh trước Bakemonogatari. Phim anime này được lên kế hoạch chia ra làm ba phần, phần đầu I Tekketsu-hen (Ⅰ鉄血篇) dự tính sẽ công chiếu trong tháng 1 năm 2016.

    Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

    Bộ anime Bakemonogatari có 6 bài hát chủ đề với 5 bài hát mở đầu và 1 bài hát kết thúc. Các bài hát mở đầu ứng với các nhân vật mà tập anime đang nói tới. Bài hát mở đầu đầu tiên là bài staple stable do Saitō Chiwa trình bày dùng trong tập 1,2 và 12, đĩa đơn chứa bài hát này đã được phát hành vào ngày 30 tháng 9 năm 2009. Bài hát kết thúc có tựa Kimi no Shiranai Monogatari (君の知らない物語) do Supercell trình bày, đĩa đơn chứa bài hát này đã được phát hành vào ngày 12 tháng 8 năm 2009. Bài hát mở đầu thứ hai là bài Kaerimichi (帰り道) do Katō Emiri trình bày dùng trong tập 3 đến 5, đĩa đơn chứa bài hát này đã được phát hành vào ngày 28 tháng 10 năm 2009. Bài hát mở đầu thứ ba là bài Ambivalent World do Sawashiro Miyuki trình bày dùng trong tập 6 đến 8, đĩa đơn chứa bài hát này đã được phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 2009. Bài hát mở đầu thứ tư là bài Renai Circulation (恋愛サーキュレーション) do Hanazawa Kana trình bày dùng trong tập 9 và 10, đĩa đơn chứa bài hát này đã được phát hành vào ngày 27 tháng 1 năm 2010. Bài hát mở đầu thứ năm là bài sugar sweet nightmare do Horie Yui trình bày dùng trong tập 11, 13 đến 15, đĩa đơn chứa bài hát này đã được phát hành vào ngày 24 tháng 2 năm 2010. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime phát hành vào ngày 28 tháng 7 năm 2010, album thứ hai phát hành vào ngày 21 tháng 12 năm 2011. Tất cả các đĩa nhạc này đều do Aniplex phát hành.

    Bộ anime thứ hai có bốn bài hát chủ đề, ba mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu thứ nhất có tựa Futakotome (二言目) do Saitou Chiwa trình bày dùng ở các tập 1, 3 đến 7. Bài hát mở đầu thứ hai có tựa Marshmallow Justice do Kitamura Eri trình bày dùng trong tập 2, đĩa đơn chứa bài hát này đã phát hành vào ngày 25 tháng 04 năm 2012 dưới dạng đính kèm phiên bản BD/DVD giới hạn. Bài hát mở đầu thứ ba có tựa Platinum Disco do Iguchi Yuka trình bày dùng từ tập 8. Bài hát kết thúc là bài Naisho no Hanashi (ナイショの話) do ClariS trình bày, đĩa đơn chứa bản nhạc đã phát hành vào ngày 01 tháng 2 năm 2012 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, có hai phiên bản giới hạn khác nhau một phiên bản có đĩa đính kèm trình bày nhạc phẩm còn một bản có đoạn biến tấu dùng trong bản truyền hình. Một bộ gồm bốn album tổng hợp các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 23 tháng 05, ngày 27 tháng 6, ngày 25 tháng 07 và ngày 22 tháng 8 năm 2012, bài hát mở đầu thứ nhất và thứ ba của bộ anime phát hành trong album thứ nhất và thứ ba, các album này được phát hành như đĩa đính kèm phiên bản DVD/BD giới hạn của bộ anime.

    Bộ Nekomonogatari (Kuro) có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa perfect slumbers do Horie Yui trình bày, album chứa bài hát cùng các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 06 tháng 3 năm 2013. Bài hát kết thúc có tựa Kieru daydream (消えるdaydream) do Kawano Marina trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 03 tháng 4 năm 2013. Các đĩa này được phát hành như đĩa đính kèm phiên bản BD/DVD giới hạn của bộ anime.

    Trong phiên bản đặc biệt của mình thì tác phẩm visual novel Bakemonogatari Portable có đính kèm một đĩa CD tập hợp tất cả các bản nhạc dùng trong trò chơi cũng như các mẫu giọng nói của các nhân vật.

    Bộ Monogatari Series Second Season có 9 bài hát chủ đề, 5 mở đầu và 4 kết thúc. bài hát mở đầu thứ nhất có tựa chocolate insomnia do Horie Yui trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 27 tháng 11 năm 2013. Bài hát mở đầu thứ hai happy bite do Katō Emiri trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hanh vào ngày 25 tháng 12 năm 2013. Bài hát mở đầu thứ ba là bài Mousou♡Express (もうそう♡えくすぷれす) do Hanazawa Kana trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 26 tháng 2 năm 2014. Bài hát mở đầu thúc thứ tư là bài Kogarashi Sentiment (木枯らしセンティメント) do Saito Chiwa và Miki Shinichiro trình bày, đĩa đơn chứa bài hát dự tính phát hành vào ngày 25 tháng 6 năm 2014. Ngoài ra khi phát hành phiên bản DVD/BD bộ anime có thêm một bài hát mở đầu mới là bài white lies do meg rock trình bày, đĩa chứa bài hát đã phát hành vào ngày 23 tháng 4 năm 2014.

    Bài hát kết thúc thứ nhất là bài Ai wo Utae (アイヲウタエ) do Haruna Luna trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 24 tháng 7 năm 2013, có hai phiên bản giới hạn khác nhau ở chỗ có chứa đoạn biến tấu dùng trong bản truyền hình. Bài hát kết thúc thứ hai có tựa Kimi no Shiranai Monogatari (君の知らない物語) do Supercell trình bày, bài hát này cũng là bài hát kết thúc dùng trong bộ anime đầu. Bài hát kết thúc thứ ba là bài Sono Koe wo Oboeteru (その声を覚えてる) do Kawano Marina trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 09 tháng 10 năm 2014. Bài hát kết thúc thứ tư là bài snowdrop do Kawano Marina trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 11 tháng 12 năm 2014. Các đĩa đơn chứa các bài hát kết thúc đều có phiên bản giới hạn đính kèm DVD chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm.

    Các album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime cũng đã phát hành, các album này được đặc tên theo các cuốn tiểu thuyết mà các tập anime được chuyển thể theo sử dụng, như Nekomonogatari (Shiro) (猫物語(白)) phát hành vào ngày 27 tháng 11 năm 2013, Kabukimonogatari (傾物語) phát hành vào ngày 22 tháng 1 năm 2014, Otorimonogatari (囮物語) phát hành vào ngày 26 tháng 3 năm 2014, Onimonogatari (鬼物語) phát hành vào ngày 28 tháng 5 năm 2014, Koimonogatari (恋物語) phát hành ngày 25 tháng 6 năm 2014 và một album tên Kogarashi Sentiment đã phát hành vào ngày 23 tháng 7 năm 2014.

    Hầu hết các album và đĩa đơn được phát hành dưới dạng đính kèm phiên bản BD/DVD giới hạn của bộ anime.

    Bộ Hanamonogatari có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tên Hanaato -shirushi- (花痕 -shirushi-) do Kawano Marina trình bày, bài hát đã phát hành trong album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime vào ngày 22 tháng 10 năm 2014. Bài hát kết thúc có tên the last day of my adolescence do Sawashiro Miyuki trình bày, bài hát cũng đã phát hành trong album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime vào 24 tháng 9 năm 2014. Các album này được phát hành dưới dạng đính kèm phiên bản BD/DVD giới hạn của bộ anime.

    Thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

    Good Smile Company đã chế tạo các bức tượng nhỏ theo phong cách chibi của các nhân vật với các bộ khác nhau. Bộ đầu gồm các nhân vật Araragi Koyomi, Senjōgahara Hitagi và Hanekawa Tsubasa. Bộ thứ hai gồm Kanbaru Suruga, Hachikuji Mayoi và Sengoku Nadeko và bộ thứ ba gồm hai chị em Karen và Tsukihi cùng Oshino Shinobu. Ngoài ra các bức tượng nhỏ giống như nhân vật bình thường cũng như các mô hình lắp ráp nhân vật cũng được sản xuất. Alter, Bandai, Kotobukiya cùng các công ty khác cũng sản xuất các bức tượng nhỏ của các nhân vật với nhiều kiểu khác nhau.

    215730-monogatari-series-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:10 (external edit)